Lịch vạn niên

Phong thuỷ, Tướng số...


  • Lịch vạn niên - Xem ngày giờ
  • Giới thiệu Âm lịch Việt Nam
  • Ngày như thế nào tốt cho cưới hoặc làm nhà...
  • Các ngày tốt nhất tháng 12/2017 âm lịch cho cưới
  • Các ngày tốt nhất tháng 12/2017 âm lịch cho làm nhà
  • Ngày Tết trong năm


  • Phong thuỷ

    Phép phong thuỷ ở Tung quốc có đã lâu. Đời Tần có một người ẩn sĩ soạn ra sách Thanh nang, đời Hán Trương Tử Phòng soạn ra sách Bình xa ngọc xích, sang đời Tấn có Quách Phác soạn sách Táng kinh, đời Tống Trương Tử vi soạn sách Ngọc tuỷ chân kinh, Trần Đoàn soạn sách Kim toả bí quyết, đời Nguyên có Lưu Bỉnh Trung soạn sách Kim đẩu quyết táng pháp, đều là sách dạy thuật phong thuỷ.

    Ở nước ta thì đời Lê có ông Nguyễn Đức Huyên người làng Tả ao, huyện Nghi xuân, tỉnh Nghệ an, sang học phép phong thuỷ (tục gọi là địa lý) ở Tàu, khi trở về nhà làm đất nổi tiếng lừng lẫy một thời. Sau có ông Hoà Chính cũng sang Tàu học được phép phong thuỷ rất tinh có làm sách để lại.

    Phép phong thuỷ, người ta thường dùng để chọn đất khi lập thành quách, cất đình chùa, hoặc làm nhà cửa, để mồ mả. Đất làm nhà cửa gọi là dương cơ, đất để mồ mả gọi là âm phần. Nhưng về dương cơ thì thường người ta ít kén chọn chỗ đất, chỉ lấy hướng cho hợp thôi, đến như âm phần thì người ta thường nhờ thầy đi tìm cẩn thận lắm.

    Phép phong thuỷ trước hết phải phân biệt hình đất làm năm hình chính là: thuỷ, hoả, mộc, kim, thổ. Người ta lại tuỳ thế đất giống hình dáng vật gì mà phân biệt những kiểu đất, như lục long tranh châu, phượng hoàng ẩm thuỷ, tê ngưu vọng nguyệt, quần tiên hội ẩm, hổ trục quần dương v.v... đó đều là những kiểu đất quí cả. Lại có những kiểu đất con rùa, con cá, con voi, con ngựa, cái cờ, cái ấn, ngòi bút, thanh gươm v.v...

    Khi đi tìm đất thì trước hết phải tìm tổ sơn, rồi dò long mạch theo thế đất mà tìm huyệt. Huyệt trường tất phải có tiền ám hậu chẫm, tả long hữu hổ; phía trước phải có minh đường thuỷ tụ hội, phía sau có long mạch thu thúc, phía ngoài phải có bàng sa triều củng; đất được như thế tức là chỗ tụ khí tàng phong, mới là chân huyệt. Nếu là chỗ sơn cùng thuỷ tận thì gọi là tuyệt địa.

    Thầy phong thuỷ phải có cái tróc long và cái địa bàn. Tróc long cũng là mộc thứ chỉ nam châm nhỏ hơn địa bàn, có thể giắt ở trong mình để đem đi tìm huyệt cho tiện. Địa bàn thì có đủ tinh thần chiền độ, tường hơn tróc long, khi phân kim điểm huyệt mới phải dùng đến.

    Những người dùng thuật phong thuỷ thường tin rằng: Người ta chôn di thể của cha mẹ, nếu hài cốt của cha mẹ được chỗ tú khí thì con cái cũng được yên lành và làm ăn thịnh vượng. Vì vậy có nhà thấy gia sự trắc trở, một ngôi mả có khi đào lên táng xuống bốn năm lần. Ở nhà quê ta thấy những việc đào sông đắp đường vì thói tin phong thuỷ, vì người ta sợ động long mạch, mà thường gặp nhiều trở ngại [Xem bài Địa lý ở sách Việt nam phong tục của Phạn Kế Bính].


    Bốc phệ

    Theo truyền thuyết thì thuật bốc phệ khởi đầu tự đời Phục hy, xem tượng Hà đồ mà đặt ra 8 quẻ: kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Mỗi quẻ chính ấy chia ra 8 quẻ tùng, thành ra 64 quẻ tùng; mỗi quẻ tùng lại có sáu nét vạch gọi là sáu hào, 64 quẻ gồm cả thảy 384 hào. Theo kinh Dịch thì mỗi hào biến động lại hoá ra quẻ khác, bấy nhiêu quẻ cai quát được hết muôn sự muôn vật trong trời đất, cho nên phép bói Dịch chỉ xét cách biến hoá của các hào mà đoán việc. Đời sau thuyết âm dương ngũ hành xuất hiện, người ta cho rằng muôn sự vật ở trong trời đất, không cái gì thoát được ra ngoài lẽ âm dương ngũ hành, cho nên cứ suy lẽ ấy ra thì có thể đoán được mọi việc.

    Những phép bóc phệ thường dùng ở nước ta, đại khái có ba thứ như sau này:

    a) Thi bóc hay bỏi cỏ thi. Người ta lấy một bộ 50 cọng cỏ thi cắt đều nhau, hay 50 chiếc que dài chừng 3, 4 tấc (ta) đặt lên bàn, rồi theo chép tắt nhất định mà lặt một số cọng cỏ ấy và xem hợp vào hào nào; ba lần đến như thế mới thành một hào; rồi trộn cả lại mà đếm gọp. Đếm 24 lần như vậy mới được 6 hào là một quẻ. Thành quẻ thì xem hào nào động tĩnh thế nào, rồi cứ chiếu những lời soán từ, hào từ và tượng từ trong kinh Dịch mà đoán ra nhân sự. Phép bói ấy, nhiều nhà nho học nước ta hay dùng lắm.

    b) Mai hoa bốc, hay bói chiết tự. Phép này của Thiệu Khang Tiết đời Tống đặt ra, có sẵn từng quẻ và sẵn lời giải đoán. Người muốn bói tự ý viết ra một chữ, rồi xem hình tượng hay chữ hay nét chữ mà khép vào quẻ, rồi xem lời quẻ mà đoán kiết hung. Cách đoán ấy thường mập mờ nên người ta chỉ dùng để bói chơi mà không tin lắm.

    c) Kiêm tiền bốc, hay bói gieo tiền. Phép này là tự Kinh Phòng đời Hán đặt ra. Về sau ông Dã hạc lại lập thành các quẻ mà nghị luận kỹ thêm, cho nên cũng gọi là phép bói Dã hạc. Phép này rất giản tiện cho nên người ta thường dùng, nhất là các thầy bói.

    Thầy bói thường dùng 3 đồng tiền để gieo quẻ. Như ba đồng ngửa cả gọi là trung, ba đồng sấp gọi là giao, một sấp hai ngửa là đơn, một ngửa hai sấp là sách. Mỗi lần gieo là một hào: trung là thái dương, giao là thái âm, đơn là thiếu dương, sách là thiếu âm. Gieo sáu lần thành một quẻ, bấy giờ xem thế động tĩnh của các hào mà đoán. Khi đoán quẻ cốt phải tính ngũ hành sinh khắc mà xem nhật thần (ngày) nguyệt tướng (tháng) xem đối với chủ nhân sinh phù hay xung khắc.

    Ngoài ba cách kể trên, ở nước ta còn có cách bói Kiều và bói âm dương, những người mê tính cũng thường dùng.


    Số tướng

    Phép xem số xem tướng xuất hiện ở Trung quốc từ xưa. Ở đời Hán đã có Hà Thương công soạn ra số tam mệnh; đời Đường có bọn Tăng Nhất Hạnh, Tăng Đạo Mậu và Lý Hư Trung đều tinh thông về số thuật; đời Ngũ đại có Tử Bình soạn ra số Định chân, đời Tống có Lâm Hiếu công soạn ra số Lộc mệnh. Ngoài ra còn các số Ngũ tinh, Hà Lạc, Tiền định, Tử vi v.v... Đại để số nào cũng suy lấy âm dương ngũ hành chế hoá sinh khắc và tính theo chiền độ nhật nguyệt tinh thần hợp với ngày sinh tháng đẻ của từng người mà đoán số mệnh giàu nghèo sang hèn thọ yểu thế nào. Trong các phép kể trên, ở nước ta hay dùng nhất là số Hà lạc, số Tiền định và số Tử vi.

    a) Số Hà lạc: dùng bát tự (năm tháng ngày giờ, mỗi cái thuộc về một can và mộ chi), tính số mục và ghép vào quái hào của kinh Dịch để đoán số mệnh. Phép ấy nhà nho hay dùng lắm.

    b) Số tiền định: Tục truyền là của Quỉ Cốc tử đời Xuân thu soạn ra, lập sẵn những cuộc về ngày sinh tháng đẻ và trường hợp nào, mỗi cuộc có mấy câu thơ thất ngôn và mấy định cách để đoán việc cát hung hoạ phúc.

    c) Số tử vi: Thì tinh tường hơn các phép khác, tục truyền là của Trần Đoàn đời Tống soạn ra. Ông Lê Quí Đôn trong sách Vân đài loại ngữ thì cho là hậu nho đặt ra rồi thác danh Trần Đoàn.

    Phép này trước hết phải xem "can chi" của năm sinh của mỗi người mà phân biệt ra các năm dương nam, dương nữ, âm nam, âm nữ. Phân âm dương rồi phải dùng phép lục giáp nạp âm mà lập cuộc, xem người ấy sinh thuộc về cuộc gì trong ngũ hành; kế phải lấy tháng sinh và giờ sinh tính ở đốt ngón tay, gọi là an thân an mệnh, rồi bày mười hai mệnh cung và phân phối mười bốn vì sao nam bắc đẩu. Thầy số cứ xem mệnh và thân đứng về cung nào, có vì sao gì chiếu mà đoán kiết hung hoạ phúc. Việc ba mươi năm về trước thì đoán về mệnh cung, việc ba mươi năm về sau thì đoán về cung thân. Những người thân mệnh đồng cung thì tiền vận hậu vận như nhau. Xét việc trong mười năm thì gọi là đại hạn, xét việc trong vòng một năm thì gọi là tiểu hạn.


    Phép xem tướng

    Từ đời Nam Bắc triều, Đào Hoằng Cảnh đã làm sách Tướng kinh, về sau lại có những sách Mã y tướng pháp, Liễu trang thủy kính, Vương thị phong giám. Tướng lý hành chân.

    Phép xem tướng rất là phiền phức, nhưng đại khái có mấy phép yếu ước như sau này:

    a) Xem tướng mặt: Mặt chia ra làm mười hai cung mỗi cung chủ về một việc, như án đường tức chỗ giữa lông mày là cung mệnh, địa các tức dưới cằm là cung nô bộc. Mặt lại chia ra tam đình: thượng đình từ chân tóc đến lông mày, chủ về tiền vận; trung đình từ lông mày đến dưới mũi, chủ về trung vận; hạ đình từ dưới mũi đến cằm, chủ về hậu vận.

    b) Xem tướng tay: Bàn tay chia làm tám cung hợp theo bát quái, còn ở giữa là minh đường. Ví dụ minh đường có nhiều nét sáng sủa thì có nhiều sự hay, mà hắc ám thì có nhiều sự dở.

    Ngoài ra còn có phép xem tướng ngón tay, cùng xem tướng toàn bộ thân thể. Trong tướng pháp có mấy cách tương hợp là tướng "ngũ trường" nghĩa là đầu, mặt, thân, tay, chân đều dài; tướng "ngũ đoản" nghĩa là đầu, mặt, thân, tay, chân đều ngắn; tướng "ngũ lộ" nghĩa là mắt, mũi, tai, môi, cổ đều lộ ra; tướng "ngũ tiểu" nghĩa là đầu, mặt, bụng, tai, miệng đều nhỏ.


    Các phép chiêm đoán

    Ta có nhiều cách chiêm đoán, phàm những việc khiết hung hoạ phúc, từ việc quan hệ quốc sự cho đến việc về sự nghiệp công danh, tài sản tính mệnh của cá nhân đều có cách chiêm đoán để biết trước. Ngoài những cách bói toán đã nói trên, còn có những cách sau này:

    a) Nhâm độn: Có độn bát môm, và độn lục nhâm. Phép sau chia bàn tay ra sáu cung rồi lấy giờ, ngày, tháng mà tính ra quẻ.

    b) Xin thẻ (xăm): Phép này thường dùng ở các đền chùa linh ứng, người đi lễ vừa khấn vừa xóc ống thẻ cho đến khi nào rơi ra một thẻ, xem số hiệu thẻ là bao nhiêu rồi đến xin người thủ từ một tờ giấy có mấy câu thơ thuộc về quẻ số hiệu ấy, rồi xem đó mà đoán.

    c) Phụ tiên: Cách này đã thuật qua ở mục "Tín ngưỡng tế tự". Khi tiên lên thì tuỳ theo lời cầu khấn của mỗi người mà cho một bài thơ, người ta sẽ xem thơ mà đoán.

    d) Cầu đồng cốt: Người có việc đến cầu với các ông đồng bà cốt, xin quỷ thần ứng mà chỉ vẽ cho những việc quá khứ và tương lai.

    e) Xem chân dò: Người ta làm một con gà dò, chặt riêng cặp dò, đem chần qua nước sôi, đặt bên con gà luộc dể cúng quỷ thần, rồi theo phép tắc định sẵn mà xem cặp dò gà ấy để đoán việc.

    f) Cầu mộng: Người có việc, như trước khi đi thi hay làm việc gì trọng đại, muốn cầu quỷ thần chỉ bảo, thường đi cầu mộng. Người ấy phải tắm rửa sạch sẽ, ăn chay, đem vàng hương đến cúng ở đền chùa nào thiêng, rồi nằm ngủ tại đó. Hễ mộng thấy gì thì cứ đó mà đoán. Mộng có khi rõ ràng có khi huyền ảo. Trong Chiêm mộng kinh có đặt sẵn những bài giải mộng, đại khái giải rằng thấy mặt trời dọi vào nhà thì được thăng quan, thấy mặt trăng soi vào bụng thì sinh quí tử, thấy rụng răng thì có người thân chết, thấy rụng răng có huyết là có việc phát tài.

    g) Nghiệm lời đồng dao: Sách xưa có câu: đồng dao là do sao Huỳnh hoặc hiện xuống dạy trẻ con, cho nên nhiều câu trúng vào thời sự. Người ta thường cho rằng câu Chi chi chành chành, cái đanh thổi lửa là nghiệm vào đèn điện, câu Chỉ đâu mà buộc ngang trời, thuốc đâu mà chửa cho người lẳng lơ nghiệm vào sở điện báo và nhà lục xì.

    h) Nghiệm lời sấm ký: Lời sấm ký là câu ẩn ngữ của nhà thuật số tính theo số thái ất mà đặt ra. Tục cho phép ấy tính được 500 năm về trước và về sau. Tương truyền rằng đời Mạc có ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) đặt ra nhiều sấm ký nói về thời sự, ví như câu: Cẩu vĩ trư đầu xuất thánh nhân, nghiệm vào việc vua Gia Long nhất thống năm nhâm tuất. Đời xưa có câu sấm Hoà đạo mộc lạc, thập bát tử thành, đông a xuất nhật, đoài cung ẩn tinh, người ta cho là đã nghiệm vào việc hưng suy các triều Lê, Lý, Trần, Trịnh.

    i) Các cách chiêm nghiệm: Ngoài các cách kể trên, ta còn vô số cách chiêm nghiệm khác, đại khái cứ xem những tự xảy ra ở người mà nghiệm về thiên thời nhân sự, như thấy nhật thực nguyệt thực là có tai biến, thấy sao chổi là có việc binh đao; trăng quầng thì hạn, trăng trán thì mưa, xương đùi ếch đen là triệu mưa; chuồng chuồn ra từng đoàn là sắp bão; kiến tha kiến leo lên là điềm sắp lụt; mưa mà quạ bay ra kêu là điềm tạnh; nhện sa trước mặt là tin hay; rắn vào nhà thì độc; chim lợn kêu là có dịch khí; ong đến nhà làm tổ là hay v.v... Những cách chiêm nghiệm ấy cũng có điều là kết quả của kinh nghiệm, như kiến leo là lụt, quạ kêu là tạnh thì thường đúng, song phần nhiều điều không có bằng cứ vào đâu, ví như nhật thực nguyệt thực và sao chổi bởi người ta cho là sự bất kỳ, cho nên tưởng là điềm tai dị. Đại khái các điều mê tín ấy đều căn cứ ở lẽ thiên nhân cảm ứng, nhân đó người ta tin rằng, phàm việc xảy ra ở trong trời đất với việc ở trong nhân gian đều có quan hệ cảm ứng với nhau cho nên không những việc ở trong trời đất là tương quan, mà việc trên trời với việc của người cũng phù ứng với nhau nữa.

    Những phương thuật kể trên, hiện nay ở nước ta vẫn còn nhiều người tin, không những ở chốn thôn quê, mà ở thành thị các thầy địa, thầy bói, thầy số, thầy tướng vẫn còn có kế sinh nhai được, tuy hơi khó khăn hơn xưa. Thực ra thì ở trong xã hội từ trên xuống dưỡi, từ quan đến dân, trừ ra một số ít phần tử tân tiến tây học, ảnh hưởng âu hoá còn bạc nhược lắm, chưa phá tan được đám mây mê tín, nên các phương thuật vẫn còn có chỗ hoạt động. Lớp dân quê thì vì không được học, lớp cựu học thì vì bảo thủ, cho nên ở giữa thời đại khai hoá mà vẫn say sưa trong các tệ tập hủ bại.

    Ở các thành thị, nhờ ảnh hưởng của tây học và tư tưởng mới nên phong khí đã khai thông, số người tin phương thuật và dị đoan đã ít lần, nhất là trong đám thành niên và trong đám thợ thuyền thì tinh thần cách tân lại hăng hái lắm. Song gần đây lại mới nảy ra một bọn phương sĩ mới lợi dụng những môn chiêm tinh thuật, số thuật, tướng thuật học theo sách tây mà họ cho là những phương thuật ấn độ và Ai cập để phỉnh phờ người ta. Nhờ danh hiệu tây phương, họ càng để huyễn diệu hơn các phương sĩ xưa, cho nên ở các thành thị họ làm ăn dễ dàng lắm. Song đồng thời tư tưởng mới và trí thức khoa học cũng truyền bá một ngày một rộng; lại thêm phong trào duy tân đương tự thành thị tràn về hương thôn mà các phần tử thanh niên ở nhà quê đã thấy ở nhiều nơi tiếp ứng, vậy ta có thể mong rằng phạm vi hoạt động của các phương thuật phải thu nhỏ lại dần, rồi hẳn có ngày không xa, bọn phương sĩ sẽ khó sinh nhai lắm.

    Việt Nam văn hoá sử cương. Đào Duy Anh.